Trích dịch từ Adonis; Poetics and Thought; An Introduction to Arab Poetics (bản dịch Anh văn của Catherine Cobham); Saqi Books, 2003
-----
Việc chuyển dời từ ngôn ngữ trên mặt chữ sang ngôn ngữ từ hoa xảy ra bởi những lẽ sau: khuếch triển nghĩa, nhấn mạnh và so sánh. Ẩn dụ trong A-rập ngữ không chỉ là một thủ pháp biểu đạt; nó ở trong cấu trúc của chính ngôn ngữ đó, là một biểu thị của nhu cầu tinh thần muốn vượt quá thực tại, tức là cái tức thời và cái định sẵn, và là sản phẩm của một tính mẫn cảm vốn được sinh ra bởi cái cụ thể và nhìn qua phía bên kia nó - một tính mẫn cảm siêu hình. Ản dụ vượt quá: giống như ngôn ngữ ẩn dụ đi qua bên kia chính nó đến một thứ khó tiếp cận hơn, nên nó đi qua bên kia thực tại vốn là cái mà nó đang nói về và tiến vào những khu vực khó tiếp cận hơn. Cứ như thể chính trong bản chất của nó thì ẩn dụ là một hành vi từ khước thực tại hiện tồn và là một cuộc tìm kiếm cái thay thế.
Do vậy ẩn dụ thích phóng thực tại khỏi ngữ cảnh quen của nó, đồng thời thích phóng các từ ngữ - vốn được dùng để bàn luận nó - ra khỏi những ngữ cảnh quen của chúng, làm thay đổi nghĩa của từ ngữ lẫn chủ đề, và trong tiến trình này nó kiến tạo mối quan hệ mới giữa từ này và từ khác, giữa từ ngữ và thực tại.
Bởi lẽ ẩn dụng giải phóng từ ngữ khỏi những giới hạn thông thường, những mối quan hệ mà nó thiết lập giữa từ ngữ và thực tại là những mối quan hệ tiềm tàng; nhiều ý nghĩa có thể có trong chúng và điều này tạo ra những phân kì trong sự hiểu, dẫn đến những phân kì của quan điểm và đánh giá. Ẩn dụ không cho phép có một giải đáp chung cuộc và tối hậu, do tự thân nó là một chiến trường các mâu thuẫn ngữ nghĩa. Nó tiếp tục là nơi sinh ra các câu hỏi, một tác nhân gây nhiễu loạn, tương phản với loại tri thức khát vọng sự tất định.
[. . .]
Rõ ràng là tồn tại một khoảng cách mông mênh giữa một bên là các chân trời tri thức theo thi ca và một bên là các chân trời tri thức theo tông giáo và triết học. Đối với hai loại sau cùng, ý nghĩa cần được biểu đạt bằng từ ngữ phù hợp để được hiểu hoàn toàn. Nhưng loại đầu tiên thấy rằng nếu tinh thần không hiểu chính xác ý nghĩa gây ra bởi từ ngữ thì nó sẽ tiếp tục khát vọng sự hiểu biết hoàn chỉnh, trong khi nếu nghĩa [của từ ngữ] hiển nhiên ngay tức thời, lòng khát vọng sự hoàn thiện sẽ ngừng tồn tại. Mục tiêu của cái ta biết là dẫn khởi một nguyện vọng trong ta đối với cái ta không biết, một nguyện vọng gia tăng tri thức của ta đến khi nó hoàn thiện. Do đó cái thế giới tồn tại bên trong những ranh giới của tri thức theo tông giáo và triết học là thế giới đóng và hữu hạn vì nó tất định; nó trở thành một hệ thống các lòng tin và trở thành một ý hệ. Nhưng từ góc nhìn của tri thức theo thi ca, tức tri thức theo ẩn dụ, thế giới trái lại là một thế giới mở và vô hạn, bởi nó là khả thể, một tiến trình liên tục của tìm kiếm và khám phá.
-----