Sunday, August 25, 2024

(Trích dịch) Adūnīs nói về ẩn dụ trong thi ca

Trích dịch từ Adonis; Poetics and Thought; An Introduction to Arab Poetics (bản dịch Anh văn của Catherine Cobham); Saqi Books, 2003

-----

Việc chuyển dời từ ngôn ngữ trên mặt chữ sang ngôn ngữ từ hoa xảy ra bởi những lẽ sau: khuếch triển nghĩa, nhấn mạnh và so sánh. Ẩn dụ trong A-rập ngữ không chỉ là một thủ pháp biểu đạt; nó ở trong cấu trúc của chính ngôn ngữ đó, là một biểu thị của nhu cầu tinh thần muốn vượt quá thực tại, tức là cái tức thời và cái định sẵn, và là sản phẩm của một tính mẫn cảm vốn được sinh ra bởi cái cụ thể và nhìn qua phía bên kia nó - một tính mẫn cảm siêu hình. Ản dụ vượt quá: giống như ngôn ngữ ẩn dụ đi qua bên kia chính nó đến một thứ khó tiếp cận hơn, nên nó đi qua bên kia thực tại vốn là cái mà nó đang nói về và tiến vào những khu vực khó tiếp cận hơn. Cứ như thể chính trong bản chất của nó thì ẩn dụ là một hành vi từ khước thực tại hiện tồn và là một cuộc tìm kiếm cái thay thế.

Do vậy ẩn dụ thích phóng thực tại khỏi ngữ cảnh quen của nó, đồng thời thích phóng các từ ngữ - vốn được dùng để bàn luận nó - ra khỏi những ngữ cảnh quen của chúng, làm thay đổi nghĩa của từ ngữ lẫn chủ đề, và trong tiến trình này nó kiến tạo mối quan hệ mới giữa từ này và từ khác, giữa từ ngữ và thực tại.

Bởi lẽ ẩn dụng giải phóng từ ngữ khỏi những giới hạn thông thường, những mối quan hệ mà nó thiết lập giữa từ ngữ và thực tại là những mối quan hệ tiềm tàng; nhiều ý nghĩa có thể có trong chúng và điều này tạo ra những phân kì trong sự hiểu, dẫn đến những phân kì của quan điểm và đánh giá. Ẩn dụ không cho phép có một giải đáp chung cuộc và tối hậu, do tự thân nó là một chiến trường các mâu thuẫn ngữ nghĩa. Nó tiếp tục là nơi sinh ra các câu hỏi, một tác nhân gây nhiễu loạn, tương phản với loại tri thức khát vọng sự tất định.

[. . .]

Rõ ràng là tồn tại một khoảng cách mông mênh giữa một bên là các chân trời tri thức theo thi ca và một bên là các chân trời tri thức theo tông giáo và triết học. Đối với hai loại sau cùng, ý nghĩa cần được biểu đạt bằng từ ngữ phù hợp để được hiểu hoàn toàn. Nhưng loại đầu tiên thấy rằng nếu tinh thần không hiểu chính xác ý nghĩa gây ra bởi từ ngữ thì nó sẽ tiếp tục khát vọng sự hiểu biết hoàn chỉnh, trong khi nếu nghĩa [của từ ngữ] hiển nhiên ngay tức thời, lòng khát vọng sự hoàn thiện sẽ ngừng tồn tại. Mục tiêu của cái ta biết là dẫn khởi một nguyện vọng trong ta đối với cái ta không biết, một nguyện vọng gia tăng tri thức của ta đến khi nó hoàn thiện. Do đó cái thế giới tồn tại bên trong những ranh giới của tri thức theo tông giáo và triết học là thế giới đóng và hữu hạn vì nó tất định; nó trở thành một hệ thống các lòng tin và trở thành một ý hệ. Nhưng từ góc nhìn của tri thức theo thi ca, tức tri thức theo ẩn dụ, thế giới trái lại là một thế giới mở và vô hạn, bởi nó là khả thể, một tiến trình liên tục của tìm kiếm và khám phá.

-----

Friday, August 16, 2024

(Trích dịch) Octavio Paz nói về phiên dịch thơ

"Tôi có thể nói rằng thơ là cái chịu sự biến đổi. Sau rốt, thơ không đơn thuần là văn bản. Văn bản sản sinh bài thơ: một tập hợp các cảm giác và ý nghĩa. Lúc này đây văn bản là gì? Văn bản là các kí hiệu - những kí hiệu này có thể được viết ra hoặc ở dạng lời nói, và chúng sản sinh các ý nghĩa. Kí hiệu là sự vật dạng vật chất, các vị có thể thấy hoặc nghe chúng. Nhưng các vị không nhìn thấy các ý nghĩa và cũng không thể chạm chúng. Kí hiệu là sự vật nó sản sinh ý nghĩa nhưng ý nghĩa không phải sự vật. Trong văn xuôi, chức năng của các kí hiệu chủ yếu là sản sinh ý nghĩa; trong thơ, những thuộc tính vật lí của các kí hiệu, đặc biệt âm thanh, cũng mang tính căn cốt. Trong thơ các vị không thể tách rời kí hiệu khỏi ý nghĩa. Thơ là cuộc phối ngẫu giữa một nửa nhục cảm hay vật lí ​của ngôn ngữ với một nửa lí tưởng hay tinh thần. Thơ "không thể" dịch vì các vị phải tái tạo tính vật chất của các kí hiệu, các thuộc tính vật lí của nó. Đây chính là chỗ bắt đầu vai trò của dịch thuật: bởi các vị đâu thể dùng cùng những kí hiệu trong nguyên bản, các vị phải tìm ra những cái tương đương. Văn bản bị mất đi nhưng các hiệu ứng của nó có thể được tái tạo thông qua những kí hiệu khác; bằng những phương tiện khác nhau, nhưng thủ một vai trò tương tự, các vị có thể sản sinh những kết quả tương tự. Tôi nói là 'tương tự', chứ không phải 'đồng nhất'. Phiên dịch là một thuật của sự tương đồng, cái thuật tìm ra các tương quan. Một thuật của bóng tối và tiếng vọng. Cái mà ta gọi là sự biến đổi cũng có thể gọi là sự tương đồng. ​​​Phiên dịch là thuật sản sinh các hiệu ứng tương đồng bằng các phương tiện khác nhau. Tôi nghĩ là Valéry từng nói câu tựa vậy. Hoặc ta có thể nói theo một lối triệt để hơn: phiên dịch là thuật sản sinh một bài thơ tương tự nguyên bản bằng một văn bản khác."

(Trích từ cuộc phỏng vấn Octavio Paz năm 1975 do Edwin Honig thực hiện)

-----

Ở ngay trước câu trả lời của Paz, người phỏng vấn có đề cập một câu được cho là của Robert Frost: "Thơ là cái chịu sự thất lạc trong phiên dịch". Tuy vậy, tôi cho rằng đây có lẽ là một câu diễn ý lại, chứ không hẳn Frost nói chính xác thế. Câu diễn ý đó có lẽ bắt nguồn từ câu này Frost từng nói trong một cuộc phỏng vấn năm 1959: "I could define poetry this way: It is that which is lost out of both prose and verse in translation" (tôi có thể định nghĩa tính thơ theo lối này: nó là cái bị thất lạc khỏi cả văn xuôi lẫn vận văn trong phiên dịch).

Ngoài ra, trong một cuộc phỏng vấn khác trước đó (năm 1955), Frost đã nói một câu tương tợ vậy: "poetry is that which evaporates from both prose and verse when translated" (tính thơ là cái sẽ bay hơi khỏi văn xuôi lẫn vận văn khi được dịch ra).