Thursday, December 25, 2014

[Film Review] The Tale of the Princess Kaguya (2013)



Before this film, the last masterpiece by Takahata Isao at Studio Ghili is My Neighbors the Yamadas (1999). 7 years later, in 2006, he began a new animation project which is this film, and everyone had to wait another 7 years to see his work which was claimed prior to the release date by Nishimura Yoshiaki (a producer of the film) that this work is "the best and last" by Takahata. I completely agree with Mr. Nishimura. The film has a minimalist style taking some resemblance to My Neighbors the Yamadas, but more colorful, more poetic and picturesque, and more artistically soaring in visual style. The plot is simple and beautiful. The soundtrack is awesome.

In his career at Ghibli, Takahata has made just 5 animated feature films for 25 years (including Grave of the Fireflies), roughly a half as much as Miyazaki Hayao's works (9 films), but as more time went by, the better and the more creative Takahata has been in making his works. And with Kaguya, he has reached his highest peak in the life of creation. In my own opinion, this film is as excellent as Miyazaki's Spirited Away in general: less symbolic but way visually better than Miyazaki's work.

And like Grave of the Fireflies or Only Yesterday, Kaguya's ending leaves some melancholy in audiences' mind, though it is so predictable. Perhaps it's the melancholy not only about the film, but also about a rare gem in animation which has gone far far away and would never come back, like Kaguya.


Tuesday, September 16, 2014

Rock café

Ngày xưa, ở Sài-gòn có một quán rock café mà gần như những người nghe rock đều biết. Quán Tùng. Nó toạ lạc khiêm tốn ở một chỗ be bé trên con đường nho nhỏ dọc con kênh dài nhất thành phố. Đi không khéo là dễ bỏ qua lắm, thế nhưng tôi đồ rằng hình như không ai đi lố hết. Thuở ấy, tôi và một (số) người bạn có hai chỗ thường trực mỗi khi rảnh, mỗi khi buồn, và cả mỗi khi vui: quán bia và quán Tùng.
Quán ấy khá ngột ngạt, không khí khá u ám, và mặc dù có lầu nhưng theo tôi thấy thì chẳng ai đi nghe rock nghiêm túc mà lại bò lên cái lầu đó cả. Đơn giản vì nó xa cái loa, vì trên lầu không "máu" bằng. Cũng như một số quán rock café trước nó, quán Tùng cũng mở nhạc theo một trình tự bất thành văn: từ nhẹ đến nặng, từ ballad, alternative rock nhẹ nhàng tình tứ diễm lệ sướt mướt sang gothic, power metal các kiểu rồi gầm rú lên death, brutal metal gớm ghiếc các thứ. Tụi tôi, hoặc có khi chỉ có tôi, thường ngồi đó cuồn cuộn theo nhạc suốt từ tầm 6 giờ tối đến khoảng 9 giờ tối hơn.
Quán đó nổi tiếng trong giới nghe rock Sài-gòn, đặc biệt là trong giới nghe metal, nên luôn đông đúc. Mà toàn là nam thanh nữ tú không mới hay, chớ chả phải toàn vằn vện, gấu ó như người đời thường hay tưởng tượng về một metalhead. Nhiều bạn có vẻ ngoài và diện mạo hiền lành, như... tôi vậy, thế mà nghe thứ nhạc dữ dội quá chừng chừng. Đến đây, tôi chợt nhớ lúc trước có người từng bảo tôi, nhìn vậy mà nghe metal hả. Tôi chỉ biết cười trừ. Nghe thì nghe thôi, biết sao được bây giờ, nhỉ.
Ở Tùng, mọi người ngồi chen chúc lẫn nhau, quen cũng như lạ, miễn sao có chỗ là chui vào thôi. Không có cái gọi là khoảng không gian riêng theo đúng nghĩa đen. Nhưng những lúc đó, cái khoảng riêng ấy luôn ở trong tâm tưởng mọi người, thế thì cái khoảng không vật lí kia có quan trọng chi đâu. Ngồi sát rạt nhau nhưng dường như ai cũng tuôn theo điệu nhạc, chẳng mảy may bận tâm người khác có ái ngại không. Ờ mà ái ngại gì chớ, ở đây vào lúc ấy, mỗi người là một phản chiếu của người kia cơ mà. Ở đây mỗi hành vi bất cẩn nào cũng có thể được xuề xoà cho qua, vì có chi đâu, bạn cũng như tôi ấy mà. Và, ở đây tôi mới cảm nhận được rõ nhứt cái gọi là tinh cầu riêng của mỗi người, và của chính mình nữa.
Tôi có dẫn một vài cô gái đến đây, nhưng cô nào cũng chỉ được lần đầu tiên. Họ đến chỉ vì tôi rủ, và cũng vì tò mò, chớ chẳng phải vì thích nghe rock hay metal đến mức vậy, dù rằng họ có thích nghe rock/metal. Có lẽ ở đây không nói chuyện được nên họ không thích chăng, hồi đó tôi nghĩ thế, mà giờ tôi cũng nghĩ thế. Có lẽ đó cũng là một trong những lí do vì sao hồi ấy tôi thích tới chỗ này: không thể nói gì được trong tiếng nhạc cuồn cuộn.
Rồi cũng như cuộc đời, chả thứ gì hoài hoài được. Đến một ngày, sau một thời gian không ghé, tôi nghe tin quán Tùng đóng cửa, rồi bị đập luôn. Lúc ấy, tôi cũng bớt nghe metal, không còn cuồng nhiệt quá nữa, nên không buồn chi. Chỉ có điều, tôi nghe lòng mình hơi tiếc. Sau đó, tôi cũng có thử tìm đến các rock café khác, nhưng chẳng chỗ nào bằng Tùng. Thử qua vài quán, tôi bỏ cuộc, và nghe rock/metal ở nhà, hoặc nhiều khi cũng chả nghe rock, chỉ nghe nhạc thời trang thôi.
Sau này, đôi khi tôi cũng tiếc một chỗ như quán Tùng. Đúng hơn là tôi nhớ. Chẳng phải chỉ vì tôi thường lui tới đó, mà nơi này còn là nơi tôi có được một số kỉ niệm buồn vui các cái, về một thời ngây ngô, một thời cuồng nhiệt. Cuộc hẹn hò đầu tiên, lần say thiệt sự đầu tiên, lần đầu tiên đi café một mình, những lần giật giũ theo điệu nhạc của Caliban, Arch Enemy, hoặc một ban melodic metal nào đó, v.v.
Hồi hôm nọ, tôi có ghé lại một quán café thuộc dạng hay-lui-tới ngày trước. Lâu rồi mới ghé qua, tôi chợt nhớ miên man đến một quán khác hình như cũng lâu rồi không ghé lại, rồi từ dòng suy nghĩ tình tang miên man đó như có một sợi chỉ vô hình dắt tôi về quán Tùng. Bỗng, tôi thấy lại mình như đang ngồi ở đấy, cùng thằng bạn chiến hữu của mình. Bất giác tôi muốn nghe metal. Nhưng quán đó chỉ bật jazz, ờ thì nghe jazz vậy.


Sài-gòn,
20140916

Monday, September 1, 2014

[Just some thoughts] Connections in the Internet age

In the Internet age nowadays, it seems that physical distances have been overcome. By creating a kind of parallel universe, the Internet has brought up something like "the death of distance", "the world is flat", etc. (you name it) as it's been believed. Yup, but the real distance still exits, here and there. It has been thought to vanquished the geography, mentally.But ironically and paradoxcically enough, deep down, maybe it also creates a more profound sense of distance resulting from a sense of longing to connect with the help of devices.

When one is contacting someone far far away via some tools, what one receives is just the bit-based information. Although the image and the voice are the same in the light of overall display, the same as when one communicates with her or him in person or face-to-face, however, it's undeniable that face-to-face situations are so different from face-to-device ones in which the human-directed sense-based information is transformed into the device-directed bit-based one.

That sense of islolation occurs to one’s mind especially when he or she knows for sure that they cannot really bridge the distance, physically. So this is where the sense jumps in. The virtual connection stirs up the sense which otherwise just lies deep in one’s mind and sometimes rises up in, say, a certain rainy evening in a certain familiar street.

Hence, the idea of “the death of distance”, for me, is just a false, misleading statement no more no less. It just make us fantasize about a true connection.

Yet, it’s not all that bad. It also helps us to accept the fate. The fate of loneliness


Friday, July 11, 2014

World Cup 2014: Messi vs Die Mannschaft

World Cup mới khai diễn đây thôi mà giờ đã đến hồi kết. Một hồi kết thiệt xứng đáng, dẫu cho đây là kì World Cup buồn nhứt của tui, khi mà cả Ý lẫn Tây-ban-nha đều bị loại ngay từ vòng bảng, cộng thêm tình yêu số một Brasil lại tỏ ra là một tập thể quá sức tởm lợm. 

Đã 24 năm kể từ lần cuối cùng Argentina lọt vào một trận chung kết World Cup, và cũng là lần cuối cùng người ta chứng kiến Đức lên ngôi số một thế giới, và giờ họ gặp nhau; và 24 năm trôi qua rồi người Argentina mới có lại một số 10 đích thực dẫn dắt cả đội đi đến trận chiến cuối cùng. Theo lí mà nói, tui nghĩ Đức sẽ vô địch, vì họ là "ông lớn" duy nhứt ở giải này thể hiện được sức mạnh tập thể khiến cho nhiều người nể phục, họ xứng đáng có được chức vô địch thế giới lần thứ tư. Nhưng tui lại muốn Messi và đồng đội lên ngôi lần này hơn. Vì Messi, chớ không phải vì Argentina (tui xưa nay không phải fan của Argentina, đơn giản vì họ là đại kình địch của Brasil).

Messi phải rời quê hương ngay từ năm 13 tuổi, vì lí do sức khoẻ, để đến với trung tâm đào tạo La Masia của câu lạc bộ Barcelona ở tận trời Âu. Đó là lí do tại sao ở Argentina người ta từ lâu đã coi Messi không phải là thuần Argentina. Messi càng thành danh ở trời Âu, thì anh càng bị chỉ trích ở quê nhà, đơn giản vì anh chưa mang đến vinh quang cho Argentina. Người ta muốn anh phải như Maradona kìa. Vâng, một ước muốn quá đỗi to lớn, và thế là gánh nặng cả quốc gia đè lên vai Messi từ World Cup 2010, sang đến World Cup này. Chỉ vì anh rời quê hương quá sớm, vì anh không phải qua từng bước như bao cầu thủ Argentina khác (đặc biệt là như Maradona, tức là phải chơi bóng ở trong nước, thành danh trong nước, rồi mới ra nước ngoài), thế là mọi sự đều nhắm vào anh. Như cây bút Jeff Himmelman từng viết, Messi đã từ khước việc khoác áo Tây-ban-nha để chọn quê hương mình, để rồi thấy rằng mình chưa bao giờ thực sự về nhà...



Vì lẽ đó, hình ảnh anh chạy băng tới với vẻ mặt gần như muốn khóc, khi Argentina vượt qua được Hà-lan trên chấm phạt đền, là một hình ảnh quá sức xúc động, nhứt là đối với những fan của Barcelona như tui. Có lẽ từ trước giờ, chỉ có loạt đá penalty hồi chung kết World Cup 2006 mới đem lại nhiều cảm xúc đến vậy đối với tui.

Monday, June 23, 2014

[Little things in an awfully big world]


This morning, I was by chance in the same bus with a Korean couple together with their little daughter (around 3 years old). When the bus reached a destination, the child just stood in my way and managed clumsily to fasten a backpack strap across her chest. I was drawn by her act and so curious as to how she would deal with it. After several attempts, she finally made it, without her parents’ help. I gave her a grin with the intention of congratulating her. And her mother smiled at me and said “thank you” for, I think, my patience. I think I should have thanked her back on account of that beautiful moment among hurried streams of life we glide nowadays.

I’ve always been in favor of radical parenting methods for children's sake, such as the Montessori method, or some kind of child-directed method. However, I’ve rarely seen a child-directed situation in a social occasion like the scene mentioned above, because parents are usually impatient with their children’s act, thereby they tend to interrupt their children’s process of self-discovery. That’s so awful! 

The couple really let their child on her own, even when they got off the bus, they just let her walk in her own way, and the father only had a duty to walk behind. What a parenting!

The kid is cute, and my day somehow is so fulfilled. 

Wednesday, April 23, 2014

Chuyện dịch thuật | Về bản dịch cuốn sách What Money Can't Buy của Michael Sandel



Cuốn sách này bàn về chuyện tiền bạc làm hủ bại nhiều giá trị tinh thần. Trong cuốn này, Sandel vẫn dùng phương pháp mà mọi người đã quen thuộc trong loạt bài giảng Justice: What’s the Right Thing to Do?: đưa ra vấn đề, sau đó đưa tiếp lập luận ủng hộ hoặc phản đối của người khác, và cuối cùng dùng lập luận chính mình để bẻ gãy lập luận trước. 

Nói chung cuốn này đọc được, nhiều ví dụ thực tế nên đọc thấy gần gũi, thú vị, mà cũng nhờ nhiều ví dụ ngoài đời thực nên ta có thể thấy được thế giới lắm trò đến mức nào. Hơn nữa, đây là một cuốn dễ đọc cực kì, gần như chẳng có gì khiến người đọc (ở đây là tui) phải ngừng lại để băn khoăn này nọ, phải nói là dễ đọc hơn nhiều so với cuốn Justice kia (vốn đậm chất triết học hơn). Tuy nhiên, ý tưởng truyền tải trong sách lại quá sức ít ỏi. Toàn bộ cuốn sách dường như là một tập hợp các ví dụ được tác giả chọn lọc có chủ đích nhằm minh hoạ cho lập luận và ý tưởng của mình. 

Tóm lại, nó chỉ đọc được, chớ không thoả mãn (ít nhứt là đối với tui).

Nói sơ lược về nội dung là thế. Giờ đến phần khác. Phần bản dịch tiếng Việt.

- Ngay cái nhan đề sách, nhà Trẻ đã cho thấy cái sự bê bối vô cùng tận của mình. Các vị đã dám tương nguyên cái nhan đề gốc Anh ngữ lên bìa, mà còn dám cắt xén và sửa lại của người ta nữa. Nhan đề gốc là “What Money Can’t Buy: The Moral Limits of Markets” (tạm dịch: “Những thứ tiền không mua được: Các giới hạn luân lí của thị trường”), sang bản của nhà Trẻ thì biến thành “What money can’t buy?”; phải có dấu hỏi mới chịu! Các vị tự tiện sửa lại mà không biết rằng, chỉ cần thêm dấu hỏi vậy thôi là nguyên cái ý nghĩa của nhan đề người ta đã bị các vị xuyên tạc, bóp méo đi rồi.