Friday, May 31, 2024

Trong khi đọc về Hans Blumenberg

 






















Trích từ Aleksandra Prica; Decay and Afterlife: Form, Time, and the Textuality of Ruins, 1100 to 1900; University of Chicago Press, 2022.

---

Gây ảnh hưởng nhất trong số đó rõ ràng là ý niệm của Blumenberg về một "trạng thái tuyệt đối của thực tại" (Absolutismus der Wirlichkeit) mà ông đã đề ra trong Work on Myth (Arbeit am Mythos, 1979). Blumenberg biện luận rằng dự án văn hoá của nhân loại khởi sự lúc con người - khi ứng phó với tình trạng "thiếu thích nghi" đối với môi trường của họ (WM, 4) - bắt đầu phát triển các chiến lược nhằm đối diện một thế giới không thể hiểu nổi ở thảy mọi điều, một thế giới gây cho họ nỗi "ưu muộn hiện sinh" (Lebensangst; WM, 6). Phần nhiều dựa vào Heidegger, ông nhấn mạnh vào tính tất yếu cho việc lí tính hoá nỗi ưu muộn thành nỗi sợ. Sự lí tính hoá này không xảy ra được qua kinh nghiệm lẫn tri thức, mà chỉ theo lối "các kĩ xảo [Kunstgriffe] như kĩ xảo về việc lấy cái quen thay thế cho cái không quen, lấy các giải thích thay thế cho điều không thể lí giải" (WM, 5). Nói cách khác, nỗi sợ là thứ có hướng và có thể được kiểm soát qua các khách thể và các thực hành vốn sẽ đưa vào một khoảng cách giữa chủ thể và cái làm chủ thể thấy sợ hãi, còn ưu muộn là thứ không có hướng và không xác định. Theo nghĩa đó, văn hoá trong toàn thể của nó có thể được cứu xét là một chiến lược ứng phó, nó giúp cho cuộc tương ngộ với thực tại trở nên khôn kham. Tuy vậy, các hình thức ban sơ của việc tạo khoảng cách theo lối tự vệ ra xa nỗi "kinh hãi" trước thực tại chính là các tên, các ẩn dụ và các huyền thoại, Blumenberg khẳng quyết: "Cái trở nên xác định được bằng một cái tên sẽ được nhấc ra khỏi tình trạng không quen bằng lối ẩn dụ và được khiến trở nên dễ tiếp cận, xét về sự tạo nghĩa của nó, bằng lối kể chuyện" (WM, 6). Tất cả ba hình thức đóng vai trò trung gian giữa con người và cái-không-biết tuyệt đối bằng lối ảnh tượng và ngôn ngữ, hoặc - như Blumenberg diễn đạt - thông qua lực của "các cơ cấu trong tưởng tượng" (imaginative Instanzen; WM, 6). Kĩ năng sử dụng những cơ cấu này nhằm tạo một thế giới khôn kham, có thể đối phó được cho chính ta là cái mà Blumenberg đặt tên là "thuật sống" (Lebenskunst). Thay vì có ý nghĩa toàn diện, nó sản sinh các hình thức tạo nghĩa, các thể thức văn hoá cô đọng - và Blumenberg bao hàm cách tường minh cả những đối tượng cảm năng - vốn hiện xuất "ra khỏi trường bao quanh khuếch tán của các khả thể" (WM, 69). "Có một thế giới", Blumenberg nêu rõ, "luôn là kết quả của một thuật" (einer Kunst); một thuật, ta có thể nói thêm, theo cái nghĩa về kĩ năng, vốn có thể giảm thiểu sự tuyệt đối của trạng thái tuyệt đối của thực tại (WM, 7).

---

Trong quyển Work on Myth, Blumenberg có đưa ra một ví dụ về khái niệm 'trạng thái tuyệt đối của thực tại', thông qua một câu chuyện về Periklēs do Ploutarchos kể lại:

Trong cuộc chiến tranh Peloponnēsos, Periklēs sửa soạn 50 chiến thuyền hòng vây hãm xứ Epidauros; ngay trước khi họ giong thuyền, mặt trời tự dưng biến mất, khiến ai nấy đều kinh hoảng, và cơn kinh hoảng này có thể liên hệ với 'trạng thái tuyệt đối của thực tại'. Lúc đó, để cho thuyền viên của mình bình tâm lại thì Periklēs cầm cái áo choàng của một thuyền viên giữ ở trước mắt y, đưa y vào cảnh tối tăm, rồi hỏi liệu y có nhận thấy đây là tai ương ghê gớm hay không. Tay thuyền viên trả lời không, và Periklēs hỏi tiếp vậy có gì khác biệt giữa chuyện vừa xảy ra với y với chuyện xảy ra ở mặt trời kia, trừ việc mặt trời bị che bởi một thứ lớn hơn nhiều.