Monday, November 6, 2017

Sợ bị lãng quên

Facebook đã sản sinh ra một thứ hội chứng như tiêu đề ở trên. Trạng huống này xảy ra cực nhiều trong giới sách vở, đến nỗi có trường hợp một kẻ sau khi "lỡ tay" tải xuống vài tập sách triết Hi-lạp viết bằng chữ Hi-lạp cũng phải loan báo thiên hạ rằng, tui tải được sách hay này, nhưng mà làm sao đọc nó đây, làm sao đây. Đó là một trường hợp đơn cử tui tình cờ gặp phải gần đây nhứt. Việc họ có ý chí và có ý thích không thể nào quan trọng bằng việc phải cho thiên hạ biết mình có ý chí và ý thích đó.

Tuesday, July 18, 2017

Chuyện dịch thuật | "Thục độc" và "tinh tư"

Trong một lần thử dò đọc một số bài luận Anh văn bàn về Nho giáo, tui bắt gặp một dòng lí thú, trích từ sách 'Chu tử ngữ loại 朱子語類' , cuốn sách biên về những cuộc luận đàm giữa Chu Hi 朱熹 với các môn đệ. Nguyên văn dòng đó như sau:

大抵觀書先須熟讀,使其言皆若出於吾之口;繼以精思,使其意皆若出 於吾之心,然後可以有得爾

Hán-Việt: Đại để quan thư tiên tu thục độc, sử kì ngôn giai nhược xuất ư ngô chi khẩu; kế dĩ tinh tư, sử kì ý giai nhược xuất ư ngô chi tâm, nhiên hậu khả dĩ hữu đắc nhĩ.

Anh ngữGenerally speaking, in reading, we must first become intimately familiar with the text so that its words seem to come from our own mouths. We should then continue to reflect on it so that its ideas seem to come from our minds. Only then can there be real understanding.

(Câu dịch Anh ngữ này trích từ Chu Hsi, Learning to Be A Sage: Selections from the Conversations of Master Chu, Arranged Topically; Daniel K. Gardner dịch và bình chú; Berkeley: University of California Press, 1990. Đoạn Anh văn này và cả đoạn Hán văn ở trên được tui lấy lại từ một bài viết khác, tiêu đề 'A Vietnamese Reading of the Master’s Classic - Phạm Nguyễn Du's Humble Comments on the Analects as an Example of Transformative Learning' của Nam Nguyen)

Nôm na rằng: trong chuyện đọc sách (quan thư), trước tiên cần phải "thục độc" (tức thuần thục cái bản văn mình đã đọc) đến mức khiến cho cái "kì ngôn ( những lời của cái bản văn ấy) thảy tựa như phát ra từ miệng bản thân mình; sau đó cần "tinh tư" (tức suy tư cho thật kĩ, thật tinh), đến mức khiến cho cái "kì ý" (tức ý của bản văn ấy) thảy tựa như phát ra từ tâm bản thân mình, rồi mới có thể "hữu đắc" được.

Đây là những chữ bàn về cái sự đọc và sự học vì chính mình (vị kỉ chi học 為己之學), và tui bỗng có một liên hệ mơ màng đến cái gọi là sự "thục độc" và "tinh tư" trong chuyện dịch, ở đây là dịch từ Anh ngữ.

Theo tui, một người dịch Anh ngữ ổn phải là người có hành động đọc văn bản Anh ngữ một cách thường xuyên, thường đến mức những câu chữ Anh ngữ, khi phát ra trong đầu ta trong quá trình đọc, sẽ tạo nên một âm hưởng thân thuộc làm ta thích thú với những cách dùng chữ và cách nói trong văn bản ấy, tựa hồ như đọc tiếng Việt vậy. Đó là sự đọc, một sự tiếp thu ngôn ngữ, đến mức "thục độc"; đây là sự tối cần thiết, nhưng vẫn chưa đủ đầy trọn vẹn.

Thứ đến, tui nghĩ, ta cần phải có sự phát lộ. Tức những bản văn Anh ngữ tiếp thu vào cần phải được nghiền ngẫm, suy nghĩ và học theo, đến mức "tinh tư", để rồi có thể tự nghĩ lấy, nhào trộn các thứ nhằm viết ra được ý nghĩa trong ta bằng chính thứ tiếng ấy. Sở dĩ phải có hành động viết ra là vì tui nghĩ, có viết ta mới nắm được cái tinh mật của thứ tiếng ấy, mới thấu rõ cái lối dụng ngữ hành văn của các cây bút bản ngữ mà ta đã tiếp thu bấy nay. Trong chuyện dịch từ Anh ngữ, cái yếu tố trước nhứt phải là nắm được cái bản văn gốc đó, vốn là tiền đề cho yếu tố dịch đúng. Hay có thể chưa, nhưng cần phải đúng, đúng ở đây xét theo nghĩa đúng trên mặt chữ và trong tâm của chính mình (tức trong đầu mình đã nắm rất rõ câu chữ mình đang dịch). Và chỉ để làm câu chuyện đúng đó, tui nghĩ cần phải có cả hai hành động trên: đọc và viết.

Câu chuyện bên lề: Tui từng nói chuyện số một (tức chuyện đọc) với một người dịch khác (từng cộng tác dịch hai cuốn cho một công ti sách thuộc hàng lớn nhứt nước), cũng là một người tui quen biết khá lâu. Anh ta bảo, không nói thẳng nhưng có ngụ ý rõ ràng, rằng chuyện đó không cần thiết. Và như một minh chứng, anh ta không hề đọc một cuốn sách tiếng Anh nào trong suốt nhiều năm, ngoại trừ những cuốn và những bản văn mà anh phải dịch. (Thế nhưng, anh ta lại là người cực kì thích bàn chuyện dịch, chuyện ngôn ngữ, chuyện tiếng Anh các thứ.) Theo tui, dịch mà thiếu đọc kiểu như thế là một sự thiếu đàng hoàng, một thói tự huyễn hoặc trong tinh thần, mà tui không bao giờ chấp nhận được. Và tui còn nghĩ, trong giới dịch sách, những người giống như anh ta không phải ít.

Tuesday, June 27, 2017

Điện ảnh | Một bài điểm phim tồi điển hình

Phim Silence của Martin Scorsese là một phim cải biên từ tác phẩm tiểu thuyết Chinmoku (Trầm mặc) của nhà văn Endō Shūsaku. Phim khắc hoạ bối cảnh bách hại đạo Kitô ở Nhật vào khoảng thập niên 30 của thế kỉ 17. Sự trầm mặc ở đây có hai ý chỉ: một là về việc Chúa tịnh không có một lời nào cho các con chiên của mình lúc họ cần ngài nhất, hai là sự kiềm nén trong trầm mặc của những con chiên buộc phải bội đạo (apostasy) để được tiếp tục sống ở đất Nhật.

Tờ Tuổi trẻ là một tờ hiếm hoi có mục điểm phim, và các phim được điểm thường là những phim khá ổn. Tuy nhiên, những bài điểm đó thường chỉ xoay quanh việc kể lại phim, lồng vào một số cảm xúc của người viết. Một cách điểm phim cực kì chán. Cho đến bài điểm phim Silence, thì cái sự chán này chuyển sang một sự khác: lên gân mà thiếu kiến thức.

Đây là bài điểm trên Tuổi trẻ:
http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/20170406/su-im-lang-cua-chua-chung-cho-duc-tin-con-nguoi/1292129.html


Ở trên là hình chụp phần đầu bài viết. Phần đầu tỏ ý muốn nói sơ lược về vấn đề truyền đạo Kitô ở Nhật, như để cung cấp người đọc một bối cảnh khái quát nhứt định. Đầy là dụng ý tốt, nhưng chỉ một đoạn nhỏ mà quá nhiều chỗ sai (đến đây tui không hiểu tại sao Tuổi trẻ lại biên tập kiểu cắt đoạn bừa bãi như vậy, hai đoạn nhỏ trên của Tuổi trẻ đáng ra chỉ là một đoạn thôi).

Thứ nhứt, sử dụng sai thuật ngữ. Đạo Thiên chúa đúng lí là tên gọi chung của ba đạo: Do-thái, Islam và Kitô giáo. Quả là có việc người Việt hay nói "Thiên chúa giáo" để chỉ đạo Kitô, nhưng đó là trong lối nói nôm na hàng ngày, còn trong văn bản viết tui tưởng phải nghiêm cẩn hơn.

Thứ nhì, đạo Kitô đã được truyền vào Nhật từ giữa thế kỉ 16, nên khó lòng có thể bảo là "mới được truyền bá" như trong bài.

Thứ ba, ở Nhật vào thế kỉ 17, chính thể cai trị họ là shogun (tướng quân), một bậc chí cường ở Nhật, chớ nào phải Thiên hoàng, một bậc chí tôn.

Thứ tư, chính quyền shogun Nhật thuở ấy không chấp nhận đạo Kitô vì họ không muốn san sẻ vị thế bá quyền của họ với đạo này, Còn cái "ví đạo Thiên chúa giống như" ở trong bài là một lối so sánh thiếu cơ sở và nhảm nhí. Đây là lối so sánh được nêu ra trong phim, không phải sử kiện.

Người viết thiếu kiến thức nhưng muốn vẽ vời đã đành, người biên tập bên Tuổi trẻ lại cứ thế mà để nguyên, nên lỗi này thuộc về Tuổi trẻ, một tờ báo lớn mà người biên tập quá yếu về kiến thức và quá lười việc tra cứu. Đó là chưa kể lối biên tập cắt đoạn bừa bãi như đã nói ở trên: họ cứ để một câu làm thành một đoạn, đọc như thể bài này chỉ gồm những gạch đầu dòng tóm tắt phim.

Sunday, May 14, 2017

Just some thoughts | A void

I’m living in a country featuring X. Everybody knows what X is essentially and fundamentally. Yet X is still X. Following common sense, we often set ourselves to a self-filtering mode, even deeming some possible happenings as a kind of impossibility which often amazes some of us when they transpire.

Recently, I had a chance, among others, of seeing that kind of happenings when the seeming impossibility did transpire, in a cinematic form in an overseas context. When making a being in an abode playing a kind of painfully dull quotidian largo consisting mainly of noises and irrationally rationalized silliness which is often clothed as some halcyon air present around here and there, that abovementioned seeing was as if an Aristotelianly cathartic feeling by dint of seeing a kind of mirroring moving images of the abovementioned largo in some screen. That was when, I think, we fell into a Lacanian void which is not necessarily a Lacanian Real which we always know is missing from our real lives and society, but that's a Lacanian-Real-like void which hasn’t been bridged and we at the moment still can’t know when it is. 

Wednesday, May 3, 2017

Chuyện dịch thuật | Từ ngữ | Narcissism

Hội chứng narcissim này, lấy tên từ một nhân vật thần thoại Hi-lạp có tên Narkissos, dùng để chỉ trạng thái tự yêu hay tự mến mộ những gì thuộc về thân tâm của chính mình. Bàng bạc đó đây, một số người, một số nơi thường dịch từ này thành "ái kỉ", mà theo tui hoàn toàn không đúng chút nào về lối thành lập từ Hán-Việt. Chính ra từ này nên được dịch thành "tự luyến". Tại sao lại là "luyến" chớ không phải "ái", là "tự" chớ nào phải "kỉ"?

Để trả lời rốt ráo câu hỏi ấy, hẳn là rất cần đến cuộc sưu khảo về nghĩa và dụng bên chữ Hán, vốn là chuyện rất... rối rắm và nằm ngoài phạm vi của tui. Do vậy, tui chỉ nêu hai ý căn cốt thế này:

- Thứ nhứt về 'luyến' và 'ái', 'luyến' có hàm ý vị kỉ (vì mình), còn 'ái' là hàm ý vị tha (vì người khác). Cái hàm ý này chứa đựng trong nghĩa chữ Hán, đó là lí do tại sao người ta dùng 'ái quốc', 'nhân ái' chớ chả ai dùng 'luyến quốc' hoặc 'nhân luyến'.

- Thứ nhì, tại sao không là 'luyến kỉ' mà lại là 'tự luyến', về bản chất của cách thành lập từ ở trường hợp này, nó giống với từ 'tự sát' (tại sao không là 'sát kỉ' mà là 'tự sát').

Thursday, April 20, 2017

Chuyện dịch thuật | 'Bàn về chính quyền' của Cicero, Alpha Books ấn hành

Nhà Alpha Books gần đây rộ lên chuyện dịch nhiều sách kinh điển về Hi-lạp và La-mã, nhưng với cung cách làm việc khá chụp giựt và chạy đua theo số lượng, tui cảm thấy đây là một tin rất xấu, chớ không thể hào hứng nổi.

Và mới đây họ quảng cáo là chuẩn bị xuất bản cuốn 'Bàn về chính quyền' của Cicero, mà tui tin rằng dịch từ bản Anh ngữ 'On Government' của nhà Penguin (do Michael Grant dịch từ Latin sang Anh). Lần này trên trang bìa họ tương ngay một câu trích lấy từ sách:



Trong câu trích trên, tui bắt gặp từ 'duy hộ' nghe hơi lạ tai. Cũng được thôi, lạ tai cũng không sao, nhưng không rõ nó phát xuất từ chữ nào bên Anh ngữ.

Thế là tui đã thử tìm kiếm qua Google và qua một số ebook lấy được trên mạng. Kết quả câu này nằm ở đầu đoạn số 24 của bài luận ‘Pro Murena’. Sau đây là nguyên văn Latin kèm theo bốn bản dịch Anh ngữ:

Nguyên văn Latin:
“Omnia enim quae sunt in imperio et in statu civitatis ab his defendi et firmari putantur.”

Bản dịch của Michael Grant (Penguin Classics):
“For it is the general conviction that they are the protectors and upholders of our entire government and state.”

Bản dịch của Charles Duke Yonge (Delphi Classics):
“(…) for all things which are in the empire and in the constitution of the state, are supposed to be defended and strengthened by them.”

Bản dịch của D. H. Berry (Oxford World’s Classics):
“(…) because such men are credited with protecting and upholding our entire empire and government.”

Bản dịch của C. MacDonald (Loeb Classical Library No. 324):
“(…) because they are thought to give protection and backing to anything concerned with the dominion of Rome and the condition of the State;”

(Trong số bốn bản dịch này, thì bản dịch của MacDonald cho series Loeb Classical Library được xem là uy tín và  tốt nhứt.)

Như vậy có thể thấy, “duy hộ” là cách dịch cho từ “defendi” bên Latin, hay “protect/defend” bên Anh ngữ. Tui thật không hiểu nguyên cớ gì mà phải nặn ra một chữ có vẻ lạ tai như 'duy hộ' để dịch một từ khá thường tình như 'defendi'. Hay dịch giả/biên tập muốn xài chữ lạ để tạo âm hưởng lạ tai, một điều có lẽ nên có cho những bản văn xưa như của Cicero?!

Ngoài ra, nhìn vào các bản văn mới thấy, từ “đất nước” ở bản Việt có vẻ không đúng (nếu không muốn bảo là hoàn toàn sai) khi dùng để dịch cụm "statu civitatis" (dịch word-by-word sang Anh ngữ là 'city-state').

Theo chú giải thuật ngữ trong ấn bản “On the Commonwealth and On the Laws” của nhà Cambridge (xuất bản năm 1999), thì cụm “statu civitatis” nghĩa là “organization/condition/form of the state”, và đồng nghĩa với cụm “res publica” (nền cộng hoà, theo cách dịch nào giờ của Việt ngữ); và nhà Cambridge còn nói thêm trong cuốn sách trên, rằng họ chọn từ “state” làm phương án dịch, không phải vì nó tương đương với khái niệm “nation-state” theo nghĩa hiện đại mà dùng với vai trò một “relatively neutral term” vốn “không có ngụ ý gì về tính chính danh hoặc về cơ cấu (that implies nothing about legitimacy or structure)”.

Từ đó thấy rõ, người dịch và cả người hiệu đính (nghe đồn người hiệu đính có biết chút ít chữ Latin) đều không hề có thao tác tra cứu gì thêm, mà chỉ dịch cốt nghe xuôi tai và êm mặt chữ.

===
Vụ này càng cho thấy cung cách làm việc cực kì ẩu tả của Alpha Books và những người cộng tác với họ. Cho nên tui luôn khuyên bạn bè xung quanh mình là tuyệt đối không nên phí tiền mua sách dịch của nhà này làm. Để tiền đó đi uống bia coi bộ còn có lí hơn.

Saturday, January 28, 2017

Chuyện dịch thuật | Từ đầu tiên trong 'A Room of One's Own' của Virginia Woolf

Trong tiểu luận "The Modern Essay", Woolf có viết như thế này (phần in đậm là do tôi cố ý định dạng):

"Of all forms of literature, however, the essay is the one which least calls for the use of long words. The principle which controls it is simply that it should give pleasure; the desire which impels us when we take it from the shelf is simply to receive pleasure. Everything in an essay must be subdued to that end. It should lay us under a spell with its first word, and we should only wake, refreshed, with its last. In the interval we may pass through the most various experiences of amusement, surprise, interest, indignation; we may soar to the heights of fantasy with Lamb or plunge to the depths of wisdom with Bacon, but we must never be roused. The essay must lap us about and draw its curtain across the world."

Tức ý của Woolf, rõ ràng như từng chữ trong chỗ in đậm trên, từ đầu tiên là từ cực kì quan trọng đối với một bài luận. Bà đã ý thức được điều đó, cho nên câu đầu tiên trong 'A Room of One's Own' của bà, thoạt nhìn có vẻ hơi lấn cấn, nhưng bên trong nó hàm chứa cả một quan niệm của bà, về từ ngữ và về ảnh hưởng của từ ngữ, nhất là từ đầu tiên.

Câu đầu tiên đó như sau:
"But, you may say, we asked you to speak about women and fiction - what has that got to do with a room of one's own?"

Bài luận của bà bắt đầu bằng từ 'but' vốn là một từ chỉ sự đối lập, sự tương phản, sự nghịch lại, sự tách xa, và vô vàn các sự khác đại để như thế. Với một văn hào cỡ như Woolf, chữ 'but' này hoàn toàn không thừa, nếu không muốn nói là cực kì hệ trọng. Có thể nói, nếu bỏ chữ 'but' này đi, xem như toàn bộ bài luận của bà chẳng còn ý nghĩa gì.

Và có người đã bỏ chữ 'but' ấy, trong bản dịch mới nhất (tính đến ngày hôm nay) cho tác phẩm 'A Room of One's Own' này:
"Các bạn có thể bảo, chúng tôi kêu cô nói về phụ nữ và truyện hư cấu - chứ liên quan gì đến căn phòng riêng?"
(Woolf, Virgina; "Căn phòng của riêng ta"; Nguyễn Vân Hà dịch. NXB Văn học và ZENBOOK phát hành, 2016.)

Chỉ nhiêu đây, cũng có thể cả tiếng mà nói rằng, tác phẩm dịch này sai hết, và người dịch dường như không chịu bỏ chút thời giờ nào để đọc những gì người ta bàn về Virginia Woolf và chữ nghĩa của bà. Để rồi kết quả là một bản dịch sai từ tận cái căn cốt nhất của Woolf.